SINH HOẠT CHUYÊN MÔN CẤP TRƯỜNG

Tháng Tám 23, 2019 5:30 chiều

SINH HOẠT CHUYÊN MÔN CẤP TRƯỜNG

  1. Nội dung:
  2. Tên hoạt động: HỘI THẢO VỀ DẠY TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
  3. Mục đích: Giáo viên thực sự đổi mới về nội dung, phương pháp dạy môn Tiếng Việt.
  4. Diễn biến:

– Thời gian từ: 14 giờ đến 17 giờ ngày 20 tháng 8 năm 2019

– Địa điểm: Tại trường Tiểu học Minh Tân

– Mô tả hoạt động:

+ Thành phần: Ban giám hiệu cùng toàn thể giáo viên dạy môn cơ bản của 2 tổ chuyên môn: 14 đồng chí.

+ Phương tiện, điều kiện: máy tính kết nối mạng, tài liệu liên quan.

+ Trình tự hoạt động:

    Ban giám hiệu trường, tổ khối trao đổi chia sẻ về những cách làm để tổ chức cho học sinh học môn Tiếng Việt đạt hiệu quả; về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hay, đồ dùng, tài liệu, phương tiện…Nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh, hướng tới thực hiện tốt chương trình giáo dục phổ thông mới; Những khó khăn vướng mắc…kiến nghị đề xuất với trường, Phòng…

   Cá nhân trình bày chia sẻ, trao đổi;

    Tổ trưởng chuyên môn cùng ban giám hiệu trường thống nhất nội dung đã trao đổi để thực hiện có hiệu quả.

+Kết quả: Toàn thể giáo viên tham gia đều nắm được cách lựa chọn nội dung, tổ chức cho học sinh học môn Tiếng Việt đạt hiệu quả.

+ Đánh giá:

*Ưu điểm: Hầu hết giáo viên đều tích cực chuẩn bị nội dung thảo luận, thống nhất được các vấn đề cơ bản như: Lựa chọn nội dung, tài liệu đồ dùng, trang thiết bị, phương pháp, hình thức tổ chức phong phú lôi cuốn học sinh, thiết kế các câu hỏi theo 4 mức độ…

* Hạn chế: Một số giáo viên nhiều tuổi tiếp cận phương pháp dạy học mới và ứng dụng công nghệ thông tin còn chậm.

+ Bài học kinh nghiệm:

     Ban Giám hiệu trường cần chỉ đạo sát sao mọi hoạt động để giáo viên thực sự tâm huyết với nghề; tích cực tự học,  khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới.

    Giáo viên chủ động sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung,phương pháp, hình thức, đồ dùng, tài liệu…nhằm phát triển năng lực nghe, nói, đọc, viết cho học sinh.

    Phương pháp dạy môn Tiếng việt theo định hướng phát triển năng lực:

       Những năng lực đặc thù của môn Tiếng Việt: Năng lực đọc; năng lực viết; năng lực nghe – nói; năng lực thẩm mĩ cảm thụ, sáng tạo.

  1. Đổi mới dạy đọc hiểu:

– Về nội dung: Giáo viên chọn văn bản phù hợp với chủ đề, văn bản hướng tới học sinh biết vận dụng vào bản thân để giả định nếu là mình sẽ có hành động, lời nói, suy nghĩ như thế nào?; chỉnh sửa bổ sung câu hỏi đọc hiểu.

– Về phương pháp: Tăng cường tư duy, tăng cường thực hành trải nghiệm tập dượt, có sai mới có đúng, rèn cho học sinh biết tự học, tự làm, giáo viên chỉ hỗ trợ khi học sinh gặp khó khăn, rèn cho học sinh kĩ năng bằng việc đọc lại, xem lại, không nói cho học sinh biết ngay kết quả; Trước  khi đọc văn bản cần có định hướng mục đích đọc.

+Trải nghiệm/ chia sẻ

+Tự khám phá/ phát hiện giá trị văn bản ( Hạn chế câu hỏi nhắc lại chi tiết, tăng cường câu hỏi phát hiện, suy luận, giải thích, đánh giá)

Mức 1:(nhận biết- nhắc lại) Câu hỏi / bài tập yêu cầu học sinh nhận biết, nêu được các từ ngữ, hình ảnh, chi tiết…trong bài.

– Ví dụ 1: Nhà Vua nghĩ ra kế gì để tìm người tài? (Bài “Cậu bé thông minh”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 2: Các bạn nhỏ trong truyện chơi trò gì? ở đâu? (Bài “Người lính dũng cảm”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 3: Vì sao En – ri – cô và Cô – rét – ti lại giận nhau? (Bài “Ai có lỗi”- Tiếng Việt 3)

Mức 2: (Hiểu- vì sao?) Học sinh phải kết nối các chi tiết đưa ra lập luận nhận xét; Câu hỏi/ bài tập yêu cầu học sinh phải dựa vào ngữ cảnh, suy luận để giải thích được ở mức đơn giản.

– Ví dụ 1: Vì sao cậu bé yêu cầu vua rèn chiếc kim thành một con dao? (Bài “Cậu bé thông minh”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 2: Vì sao “Cậu lính” bé nhất mới đúng là “người lính dũng cảm”? (Bài “Người lính dũng cảm”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 3: Vì sao En-ri-cô thấy hối hận, muốn xin lỗi Cô-rét-ti? (Bài “Ai có lỗi”- Tiếng Việt 3)

Mức 3: (Vận dụng trực tiếp) Câu hỏi yêu cầu học sinh giải quyết các tình huống/ vấn đề tương tự như tình huống/ vấn đề trong bài đọc như: Câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì?

– Ví dụ 1: Dân chúng cả vùng lo sợ vì lệnh vô lí của nhà vua thái độ cậu bé như thế nào? Thái độ đó cho biết điều gì về cậu bé? (Bài “Cậu bé thông minh”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 2: Những hành động việc làm của chú lính nhỏ trong câu chuyện gợi cho em suy nghĩ gì? (Bài “Người lính dũng cảm”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 3: Theo em, hai bạn nhỏ En-ri-cô và Cô-rét-ti trong truyện “Ai có lỗi” mỗi bạn có điểm gì đáng khen? (Bài “Ai có lỗi”- Tiếng Việt 3)

Mức 4: Câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức- kĩ năng được học vào tình huống mới hoặc có nội dung thực tiễn.

– Ví dụ 1: Theo em, trí thông minh của con người có thể có bằng con đường rèn luyện hay không? Vì sao? (Bài “Cậu bé thông minh”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 2: Em sẽ nói gì với những bạn thường xuyên không thực hiện nghiêm túc nội quy trường, lớp?

– Ví dụ 3: Em nghĩ thế nào về những người biết và những người không biết giữ lời hứa? (Bài “Người lính dũng cảm”- Tiếng Việt 3)

– Ví dụ 4: Có ý kiến cho rằng: “Những người muốn hạnh phúc phải giúp người sống quanh mình hạnh phúc; Những người muốn thành công phải giúp người sống quanh mình thành công” Em có tán thành ý kiến này không ? Vì sao?

– Ví dụ 4: Em sẽ làm gì để tránh nổi cáu khi không bằng lòng với việc làm, hành động của người khác? (Bài “Ai có lỗi”- Tiếng Việt 3)

  1. Đổi mới dạy viết: Giáo viên cần chú ý tạo cơ hội phát triển khả năng sáng tạo của học sinh.

– Điều chỉnh yêu cầu về nội dung viết phù hợp với học sinh. Viết tập viết, viết chính tả nên tích hợp với viết có tư duy.

– Viết văn hạn chế tối đa việc yêu cầu học sinh viết bài rập khuôn, máy móc “công thức hóa”, không nên gò bó học sinh bằng những câu hỏi. Ví dụ: Cho học sinh kể về gia đình mình, học sinh tự do kể, giáo viên hướng dẫn, bạn bè kể cho nhau nghe nhận xét bổ sung rồi mới viết; Khích lệ sự sáng tạo trong bài làm của học sinh.

– Đánh giá bài viết: rèn học sinh năng lực tự đánh giá về: Nội dung phong phú- sơ sài, sắp xếp lô-gic- lộn xộn, cảm nhận của người viết có cảm xúc, tinh tế, độc đáo không; lỗi dùng từ viết câu; lỗi chính tả…

  1. Đổi mới nghe – nói:

– Đổi mới dạy nói: Hạn chế kể lại (theo kiểu học thuộc lòng/ ghi nhớ) tăng cường nói theo suy nghĩ, cảm nhận riêng của cá nhân.

– Đổi mới nghe:

+ Thái độ nghe yêu cầu học sinh phải tập trung.

+ Nội dung nghe ( đa dạng).

+ Đánh giá kĩ năng nghe: yêu cầu học sinh nghe rồi kể lại, cần phản ánh đúng;

+ Đổi mới nghe – nói tương tác, tăng cường hoạt động trao đổi, thảo luận, trình bày ý kiến. Tương tác chia sẻ với bạn như: bạn đã hài lòng với… Nếu làm lại bạn cần bổ sung sửa như thế nào? Theo mình…bạn thấy thế nào? Học sinh tự nghĩ ra lời đáp trước khi đưa ra tình huống giả định cho học sinh nói ra những tình huống có thật; Học sinh đưa ra những lời đáp khác nhau; Khuyến khích học sinh tìm hiểu nội dung từ nhiều nguồn tài liệu, cho học sinh đi dã ngoại rèn năng lực quan sát, trao đổi, hồi ức, tăng cường vốn sống…Rèn học sinh nói- kể diễn đạt kết hợp hành động, cử chỉ và nói theo chi tiết cơ bản.

                                                                                                                                   HIỆU TRƯỞNG

                                                                                                                                       Phạm Minh Tâm